Phương pháp giải bài tập về sự thuỷ phân của muối

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 11 bài viết Phương pháp giải bài tập về sự thuỷ phân của muối, nhằm giúp các em học tốt chương trình Hóa học 11.

Nội dung bài viết Phương pháp giải bài tập về sự thuỷ phân của muối:
DẠNG 3. BÀI TẬP VỀ SỰ THUỶ PHÂN CỦA MUỐI Phương pháp: Muối là hợp chất khi tan trong nước phân li ra cation kim loại (hoặc cation NH4+) và anion gốc axit. Thí dụ: NH4NO3 = NH4+ + NO3-; NaHCO3 → Na+ + HCO3-. Khi hoà tan vào nước, các muối sẽ phân li thành các ion và bị hiđrat hoá. – Muối mà anion gốc axit của muối không còn hiđro có khả năng phân li ra ion H+ được gọi là muối trung hoà. Thí dụ: NaCl, CaCO3, NH4NO3,… – Muối mà anion gốc axit của muối vẫn còn hiđro có khả năng phân li ra ion H+ được gọi là muối axit. Thí dụ: NaHCO3, Ca(HSO3)2, NaHS, NH4HSO4.
a) Nếu muối tạo bởi axit mạnh và bazơ mạnh thì quá trình phân li chỉ dừng lại ở các ion bị hiđrat hoá và pH của dung dịch này không đổi (pH = 7) làm quỳ tím không đổi màu. Thí dụ: NaCl + (n + m)H2O → Na(H2O)n+ + Cl(H2O)m- (hay đơn giản NaCl = Na+ + Cl-) . b) Nếu muối tạo bởi axit mạnh và bazơ yếu thì khi thủy phân sẽ thu được dung dịch có môi trường axit (pH < 7) quỳ tím hoá đỏ. Thí dụ: NH4Cl → NH4+ + Cl- (axit) (trung tính) [H3O+] > [OH-] → dung dịch có môi trường axit (pH < 7). c) Nếu muối tạo bởi axit yếu và bazơ mạnh thì khi thủy phân sẽ thu được dung dịch có môi trường bazơ (pH > 7) quỳ tím hoá xanh. Thí dụ: CH3COONa = CH3COO- + Na+ (bazơ) (trung tính) [OH-] > [H3O+] dung dịch có môi trường bazơ (pH > 7). d) Nếu muối tạo bởi axit yếu và bazơ yếu thì khi thủy phân để kết luận dung dịch thu được có môi trường nào ta phải dựa vào hằng số Ka, Kb của axit yếu và bazơ yếu. Thí dụ: CH3COONH4 → CH3COO- + NH4+ (baza) (axit); CH3COO- + H2O = CH3COOH + OH-.
Ví dụ 1: a) Hòa tan từng muối NaCl, NH4Cl, NaHSO4, Na2S, Cu(NO3)2 vào nước thành 5 dung dịch, sau đó cho vào mỗi dung dịch một ít quỳ tím. Hỏi dung dịch có màu gì? Tại sao? b) Trộn 250ml dung dịch hỗn hợp gồm HCl 0,08M + H2SO4 0,01M với 250ml dung dịch NaOH aM được 500ml dung dịch có pH = 12. Tính a. Giải a) – Dung dịch NaCl: Quỳ không đổi màu và NaCl tạo bởi axit mạnh và bazơ mạnh – Dung dịch NaHSO4, NH4Cl, Cu(NO3)2: Quỳ có màu đỏ vì các muối này bị thuỷ phân cho dung dịch có môi trường axit: NaHSO4 → Na+ + HSO4-; HSO4- + H2O = SO42- + H3O+; NH4Cl = NH4+ + Cl-; NH4- + H2O = NH3 + H3O+ b) nH+ = 0,25.0,08 + 2.0,25.0,01 = 0,025 (mol). Dung dịch thu được có pH = 12 > 7 suy ra OH- còn và H+ hết.
Ví dụ 2: Có 5 lọ mất nhãn đựng một trong các dung dịch sau: NH4Cl, MgSO4, ZnCl2, NaCl. Chỉ dùng thêm dung dịch K2S làm thuốc thử. Hãy trình bày phương pháp hoá học để phân biệt các dung dịch trên. Viết phương trình hoá học xảy ra (nếu có) dưới dạng ion thu gọn. Giải: Cho dung dịch K2S tác dụng lần lượt với các dung dịch trên. Nhận ra: – Dung dịch NH4Cl: Có khí thoát ra, mùi khai khi đun nóng. NH4+ + S2- = NH3 + HS- (mùi khai) – Dung dịch AlCl3: Có kết tủa trắng keo xuất hiện: Al3+ + 3S2- + 3H2O = Al(OH)3 + 3HS- (trắng keo) – Dung dịch NaCl: Không hiện tượng – Dung dịch MgSO4 và ZnCl2: Có kết tủa trắng xuất hiện: Mg2+ + 2S2- + 2H2O = Mg(OH)2 + 2HS- (màu trắng); Zn2+ + S2 = ZnS (màu trắng). Lọc lấy kết tủa cho phản ứng với dung dịch NH4Cl đun nóng. Kết tủa nào tan là Mg(OH)2. Dung dịch ban đầu là MgSO4. Mg(OH)2 + 2NH4+ → 2Mg2+ + NH3 + 2H2O. Dung dịch còn lại là ZnCl2.