Những giai đoạn chính trong quá trình phát sinh loài người

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 12 bài viết Những giai đoạn chính trong quá trình phát sinh loài người, nhằm giúp các em học tốt chương trình Sinh học 12.

Nội dung bài viết Những giai đoạn chính trong quá trình phát sinh loài người:
Các dẫn liệu cổ sinh học cũng như sinh học phân tử đã chứng minh rằng loài người được phát sinh từ tổ tiên chung với vượn người (thuộc bộ Linh trưởng, lớp Thú) và tiến hoá theo kiểu phân nhánh trải qua các giai đoạn chính sau đây : vượn người hoá thạch, người vượn hoá thạch (người tối cổ), người cổ và người hiện đại. 1. Các dạng vượn người hoá thạch Dạng vượn người hoá thạch cổ có liên quan đến nguồn gốc loài người là Đriôpitec (Dryopithecus africanus) (còn có tên gọi là Proconsul) được Gocđơn (Gordon) phát hiện năm 1927 ở châu Phi, Sống cách đây khoảng 18 triệu năm. Từ Đriôpitec tiến hoá thành người qua trung gian người vượn đã tuyệt diệt là Oxtralôpitec (hình 45.1) 2. Các dạng người vượn hoá thạch (còn gọi là người tối cổ) Ôxtralôpitec (Australopithecus) là dạng người vượn sống ở cuối kỉ Đệ tam, cách đây khoảng 2-8 triệu năm. Chúng đã chuyển từ lối sống trên cây xuống sống ở mặt đất, đi bằng 2 chân, thân hơi khom về phía trước. Chúng có chiều cao 120-140cm, nặng 20-40kg, có hộp sọ 450-750cm. Chúng đã biết sử dụng cành cây, hòn đá, mảnh xương thủ để tự vệ và tấn công. Hoá thạch của Ôxtralôpitec được phát hiện lần đầu tiên năm 1924 ở Nam Phi và được đặt tên là Australopithecus africanus.
Từ đó về sau, các nhà cổ sinh học đã phát hiện nhiều mẫu hoá thạch người vượn Ôxtralôpitec ở Nam Phi và Đông Phi, thuộc ít nhất bảy loài khác nhau, có niên đại 2-6 triệu năm. Chúng giống với người ở nhiều đặc điểm (đi bằng hai chân, biết sử dụng công cụ…) và chúng là mắt xích trung gian giữa tổ tiên xa xôi của loài người Với dòng người hiện đại. 3. Người cổ Homo Người cổ Homo là các dạng người thuộc chi Homo đã tuyệt diệt sống cách đây 35 000 năm-2 triệu năm. a) Homo habilis (người khéo léo) : Hoá thạch đầu tiên được tìm thấy ở Onduvai (Tanzania) năm 1961-1964 do vợ chồng Liccây (Leakeys) và được đặt tên là Homo habilis. Người khéo léo là những người đầu tiên sống cách đây khoảng 1,5-2 triệu năm, cao khoảng 1-1,5m, nặng 25-50 kg, có hộp sọ 600-800 cm. Họ sống thành đàn, đi thẳng đứng, tay biết chế tác và sử dụng công cụ bằng đá. b) Homo erectus (người đứng thẳng): Người đứng thẳng là loài người cổ tiếp theo người khéo léo, Sống cách đây 35 000 năm – 1,6 triệu năm (hình 45.1). Hoá thạch của họ được tìm thấy không chỉ ở châu Phi mà ở cả châu Âu, châu Á và châu Đại Dương. – Người cổ Java (người Pitecantrôp) được quyboa (Dubois) phát hiện ở Java (Inđônêxia) năm 1891. Người cổ Java Sống cách đây 80 vạn – 1 triệu năm, cao 1,7m, hộp sọ 900-950cm, đi thẳng đứng, biết chế tạo và sử dụng công cụ bằng đá. Người cổ Bắc Kinh (người cổ Xinantrop) được phát hiện năm 1927 ở Chu Khẩu Điếm gần Bắc Kinh (Trung Quốc). Người cổ Bắc Kinh sống cách đây 50-70 vạn năm, có hộp sọ 1000 cm, đi thẳng đứng, biết chế tác và sử dụng công cụ bằng đá, bằng xương, biết dùng lửa. – Người Heidenbec được phát hiện năm 1907 tại Heidenbec (Đức), có lẽ đã tồn tại châu Âu cách đây khoảng 500 000 năm cũng thuộc loài Homo erectus. Ở Việt Nam, trong những năm 1960-1970 đã phát hiện nhiều di tích khảo cổ (răng, công cụ đá …) chứng minh rằng xưa kia đã từng là nơi sinh sống của người cổ Homo. c) Homo neanderthalensis (người Neanđectan) Người cổ Homo erectus đã biến mất cách đây khoảng 200 000 – 35 000 năm, nhường chỗ cho người Neanđectan (Homo neanderthalensis). Hoá thạch của người Nêanđectan được phát hiện đầu tiên năm 1856 ở Nêanđec (Đức), về sau được tìm thấy cả ở khắp châu Âu, A, Phi. Người Neanđectan có tầm thước trung bình (1,55 1,66 m), hộp sọ 1400 cmỏ, xương hàm gần giống với người, có lồi cằm (có thể đã có tiếng nói), sống thành đàn 50-100 người, chủ yếu trong các hang. Họ đã biết dùng lửa thông thạo, sống săn bắt và hái lượm, công cụ của họ khá phong phú, chủ yếu được chế tác từ đá silic thành dao sắc, rìu mũi nhọn, đã bước đầu có đời sống văn hoá. Người Neanđectan tồn tại cách đây 30 000 – 150 000 năm và đã tuyệt diệt. Người Neanđectan không phải là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại mà là một nhánh phát triển trong chi Homo cùng tồn tại một thời gian dài, sau đó biến mất nhường chỗ cho người hiện đại.
4. Người hiện đại (Homo sapiens) Hoá thạch người đầu tiên được tìm thấy ở làng Crômanhộn (Pháp) năm 1868, về sau còn được phát hiện ở nhiều nơi thuộc châu Âu và châu Á. Người Crômanhộn Sống cách đây 35 000 – 50 000 năm, cao 1,80m, nặng 70kg, hộp sọ 1 700cm, hàm dưới có lồi cằm rõ chứng tỏ tiếng nói đã phát triển. Họ giống hệt người hiện đại ngày nay, chỉ khác là răng to khoẻ. Họ đã chế tạo và sử dụng nhiều công cụ tinh xảo bằng đá, xương, sùng như rìu có lỗ để tra cán, lao nhọn có ngạnh, kim khâu và móc câu bằng xương. Họ sống thành bộ lạc, đã có nền văn hoá phức tạp, có mầm mống mĩ thuật và tôn giáo. Triệu năm trước đây Hình 45.1. Sự phát triển loài người cách nay 4 triệu năm Người Crômạnhôn kết thúc thời đại đồ đá cũ (3,5 vạn – 2 triệu năm), sau đó là thời đại đồ đá giữa (1,5 – 2 vạn năm) rồi đến thời đại đồ đá mới (7 – 10 nghìn năm), tiếp theo là thời đại đồ đồng, đồ sắt… Trồng trọt và chăn nuôi đã có cách đây khoảng 10 000 năm. Qua quá trình phát triển lâu dài, loài người đã phân hoá thành một số chủng tộc, phân bố khắp các châu lục. Các chủng tộc da vàng (chủ yếu sống ở châu Á), chủng tộc da trắng (chủ yếu sống ở châu Âu), chủng tộc da đen (chủ yếu sống ở châu Phi) tuy khác nhau về nhiều đặc điểm (như : hình thái cơ thể, màu da, màu tóc, màu mắt, ngôn ngữ, phong tục, tập quán…) nhưng đều có chung nguồn gốc và thuộc một loài là loài người (Homo sapiens). Theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ, sự cách li địa lí giữa các chủng tộc bị phá vỡ, các chủng tộc khác nhau có điều kiện giao lưu, hoà đồng tạo nên hỗn hợp chủng tộc đa dạng, phong phú của loài người hiện nay.