Mã di truyền

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 12 bài viết Mã di truyền, nhằm giúp các em học tốt chương trình Sinh học 12.

Nội dung bài viết Mã di truyền:
Trong ADN chỉ có 4 loại nuclêôtit (A, T, G, X) nhưng trong prôtêin lại có khoảng 20 loại axit amin. Nếu 1 nuclêôtit xác định một axit amin thì có 4′ 4 tổ hợp, chưa đủ để mã hoá cho 20 loại axit amin. Nếu 2 nuclêôtit cùng loại hay khác loại xác định một axit amin thì có 42 16 tổ hợp, vẫn chưa đủ để mã hoá cho 20 loại axit amin. Nếu 3 nuclêôtit cùng loại hay khác loại xác định một axit amin thì có 4 64 tổ hợp, thừa đủ để mã hoá cho 20 loại axit amin. Do vậy, mã di truyền là mã bộ ba. Mã di truyền trong ADN được phiên mã sang mARN. Do đó, sự giải mã mARN cũng chính là giải mã ADN. Năm 1966, tất cả 64 bộ ba trên mARN (các côđon) tương ứng với 64 bộ ba (triplet) trên ADN mã hoá cho các axit amin đã được giải mã bằng thực nghiệm.
Đặc điểm của mã di truyền Mã di truyền là mã bộ ba, có nghĩa là cứ 3 nuclêôtit đứng kế tiếp nhau mã hoá một axit amin. Mã di truyền được đọc từ một điểm xác định và liên tục từng bộ ba nuclêôtit (không chồng gối lên nhau). Mã di truyền có tính đặc hiệu, tức là một bộ ba chỉ mã hoá cho một loại axit amin. Mã di truyền có tính thoái hoá (dư thừa), nghĩa là có nhiều bộ ba khác nhau có thể cùng mã hoá cho một loại axit amin trừ AUG và UGG. Mã di truyền có tính phổ biến, có nghĩa là tất cả các loài đều có chung một bộ mã di truyền, trừ một vài ngoại lệ. Trong số 64 bộ ba thì có 3 bộ ba không mã hoá axit amin. Ba bộ ba này là UAA, UAG, UGA và được gọi là các bộ ba kết thúc vì nó quy định tín hiệu kết thúc quá trình dịch mã. Bộ ba AUG là mã mở đầu khi có chức năng quy định điểm khởi đầu dịch mẽ và quy định axit amin metionin ở sinh vật nhân thực (ở sinh vật nhân sơ là foocmin metionin).