Điện thế nghỉ

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 11 bài viết Điện thế nghỉ, nhằm giúp các em học tốt chương trình Sinh học 11.

Nội dung bài viết Điện thế nghỉ:
Điện kế 1. Khái niệm Dùng 2 điện cực (vi điện cực) nối với một điện kế cực nhạy, đặt 1 điện cực ở mặt ngoài màng của một nơron, còn điện cực thứ hai đâm xuyên qua màng vào mặt trong màng tế bào. Kim của điện kế lệch đi một khoảng, chứng tỏ có sự chênh lệch điện thế giữa trong và ngoài màng (hình 28.1). Ở trạng thái nghỉ, mặt trong của màng nơron tích điện âm (-) và mặt ngoài tích điện dương (+), đó là điện thế nghỉ (còn gọi là điện thế màng hay điện tĩnh). Trị số điện thế nghỉ ở tế bào thần kinh mực ống đo được là -70mV. Hình 28.1.
Cách đo điện thế nghỉ trên nơron của mực ống 1-2. Các điện cực ; 3. Sợi trục của nơron. 2. Cơ chế hình thành điện thế nghỉ Sở dĩ có sự chênh lệch điện thế giữa trong và ngoài màng sinh chất của nơron như trên vì có sự khác nhau về nồng độ Na+, K+ giữa dịch mô và dịch bào, nồng độ [K”] 5mM [Na] 150mM [CI] 120MM Dịch mô Màng tế bào Hình 28.2. Sự phân bố các ion trong dịch bào và dịch mô (dịch nội bào và dịch ngoại bào) ở tế bào thần kinh của thú [K+] [Na] – 150mM 15mM [CI] 10mM [Các anion khác 100mM Dịch bào K” trong dịch bào lớn hơn ngoài dịch mô còn Na+ thì ngược lại (hình 28.2), nên K+ có xu hướng di chuyển ra ngoài màng và Na* lại có xu hướng di chuyển vào trong màng theo chiều građien nồng độ.
Ở trạng thái nghỉ, màng sinh chất chỉ có tính thấm chọn lọc đối với KÝ nghĩa là cho phép kênh K+ “mở hé” để KÝ đi ra trong khi kênh Na+ vẫn đóng. Khi K’ đi ra mang theo điện tích dương (+) và các anion (-) bị giữ lại bên trong màng đã tạo nên lực hút tĩnh điện giữa các ion trái dấu, nên K+ cũng không thể đi ra một cách thoải mái (và cũng không thể đi xa khỏi màng). Hơn nữa, còn vì hoạt động của bơm Na/K+ thường xuyên chuyển Nat ra và K+ vào (theo tỉ lệ 3 Na* ra và 2 K+ vào) nên duy trì được tính ổn định tương đối của điện thế nghỉ (-70mV đối với thần kinh mực ống).