Cacbohiđrat (saccarit)

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 10 bài viết Cacbohiđrat (saccarit), nhằm giúp các em học tốt chương trình Sinh học 10.

Nội dung bài viết Cacbohiđrat (saccarit):
Cacbohiđrat là các chất hữu cơ được cấu tạo từ C, H, O theo công thức chung [CHUO], trong đó tỉ lệ giữa H và O là 2:1 (giống như tỉ lệ trong ph Ví dụ, glucôzơ có công thức là C6H12O6. 1. Cấu trúc của cacbohidrat a) Cấu trúc các mônosaccarit (đường đơn) Gồm các loại đường có từ 3 – 7 nguyên tử cacbon trong phân tử, trong đó phổ biến và quan trọng nhất là các hexOzơ (chứa 6C) và pentozơ (chứa 5C). Điển hình của các hexOzơ là glucôzơ (đường nho), fructozơ (đường quả), galactôzơ. Các đường đơn này có tính khử mạnh. Đường pentozơ gồm đường ribôzơ và đêôxiribôzơ. c) Ribozo a) Glucôzơ b) Fructôzo.
Hình 8.1. Cấu trúc một số đường đơn b) Cấu trúc các đisaccarit (đường đôi) Glucôzơ Saccarôzo Nước Fructozo (Mônôsaccarit) (Đisaccarit) Hình 8.2. Sự tạo thành saccarozơ từ hai đường đơn Hai phân tử đường đơn (glucôzơ, fructozơ, galactôzơ) có thể liên kết với nhau nhờ liên kết glicozit sau khi đã loại đi 1 phân tử nước tạo thành các đường đisaccarit như saccarOzơ (đường mía), mantozơ (đường mạch nha), lactôzơ (đường sữa). Các đisaccarit này có công thức cấu tạo phân tử khác nhau. c) Cấu trúc các polisaccarit (đường đa).
Nhiều phân tử đường đơn bằng các phản ứng trùng ngưng và loại nước tạo thành các polisaccarit là các phân tử mạch thẳng (như xenlulôzơ) hay mạch phân nhánh (như tinh bột thực vật hay glicogen động vật). Tinh bột được hình thành do rất nhiều phân tử glucôzơ liên kết với nhau dưới dạng phân nhánh và không phân nhánh. Glicôgen được hình thành do rất nhiều phân tử glucôzơ liên kết với nhau thành một phân tử có cấu trúc phân nhánh phức tạp (hình 8.3). CH2 Xenlulôzơ Tinh bột hoặc glicogen.
Hình 8.3. Polisaccarit 2. Chức năng của cacbohiđrat (saccarit) Saccarit là nhóm chất hữu cơ thường có khối lượng lớn và là nguyên liệu giải phóng năng lượng dễ dàng nhất (đóng vai trò là nguồn cung cấp năng lượng, phổ biến nhất là glucôzơ). Saccarit cũng là thành phần xây dựng nên nhiều bộ phận của tế bào, ví dụ, xenlulôzơ là thành phần cấu trúc nên thành tế bào thực vật (hình 8.4). Pentozơ là loại đường tham gia cấu tạo ADN, ARN. HexOzơ là nguyên liệu chủ yếu cho hô hấp tế bào tạo năng lượng, cấu tạo nên đisaccarit và polisaccrit. Saccarôzơ là loại đường vận chuyển trong cây.
Tinh bột có vai trò là chất dự trữ trong cây, glicogen là chất dự trữ trong cơ thể động vật và nấm… Sợi Fibrin Xenlulôzơ – Liên kết glicozit Hình 8.4. Xenlulôzơ cấu trúc thành tế bào thực vật Một số polisaccarit kết hợp với prôtêin có vai trò vận chuyển các chất qua màng sinh chất và góp phần “nhận biết” các vật thể lạ lúc qua màng. Glicogen ở tế bào động vật và tinh bột ở tế bào thực vật đóng vai trò là nguồn dự trữ năng lượng.