Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong đến sinh trưởng và phát triển ở động vật

VnHocTap.com giới thiệu đến các em học sinh lớp 11 bài viết Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong đến sinh trưởng và phát triển ở động vật, nhằm giúp các em học tốt chương trình Sinh học 11.

Nội dung bài viết Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong đến sinh trưởng và phát triển ở động vật:
1. Giới tính Trong cùng một loài, sự sinh trưởng và phát triển của con đực và con cái có thể khác nhau. Thường thì con cái có tốc độ lớn nhanh hơn và sống lâu hơn. Ví dụ : mối chúa lớn rất nhanh, cơ thể dài gấp đôi và nặng gấp 10 lần so với mối đực. Chúng có thể đẻ 6000 Con trai trứng mỗi ngày. Mỗi lính và mối thợ thì rất bé và không có khả năng sinh sản. Ở người, con trai và con gái có 2 4 6 8 10 12 14 16 18 năm (tuổi) tốc độ sinh trưởng không giống nhau (hình 38.1). Hình 38.1. Tốc độ sinh trưởng ở người Tốc độ tăng khối lượng (kg/năm). Các hoocmôn sinh trưởng và phát triển Điều hoà sự phát triển phôi và đặc biệt là hậu phội có hàng loạt hoocmôn phối hợp tác động như các hoocmôn biến thái (ecdixon, juvenin, tirôxin…), các hoocmôn kích dục điều hoà sự chín trứng và rụng trứng (FSH, LH), các hoocmôn sinh dục điều hoà sự dậy thì, sự động dục, sự mang thai (testosteron, astrogen, pr_gesteron…). a) Hoocmôn điều hoà sinh trưởng: Các hoocmôn quan trọng nhất trong sự điều hoà sinh trưởng ở người là hoocmôn sinh trưởng (GH) và tirôxin. Hoocmôn sinh trưởng được tiết ra từ thuỳ trước tuyến yên và có tác dụng tăng cường quá trình tổng hợp prôtêin trong tế bào, mô và cơ quan, do đó tăng cường quá trình sinh trưởng của cơ thể, nhưng hiệu quả sinh trưởng còn phụ thuộc vào loại mô và giai đoạn phát triển của chúng. Ví dụ : GH làm cho xương trẻ em dài ra, nhưng đối với xương của người lớn nó không có tác dụng.
Đối với người lớn tăng tiết GH sẽ sinh ra bệnh to đầu xương chi. Hoocmôn tirôxin : được sản sinh ra từ tuyến giáp, có tác dụng làm tăng tốc độ chuyển hoá cơ bản, do đó tăng cường sinh trưởng. Ở trẻ em, nếu thiếu tirôxin sẽ làm cho xương và mô thần kinh sinh trưởng không bình thường và do đó có thể gây ra bệnh đần độn. Đối với người lớn, tirôxin không có tác dụng như vậy vì xương và hệ thần kinh đã sinh trưởng đầy đủ. b) Hoocmôn điều hoà sự phát triển – Điều hoà sự biến thái Sự phát triển biến thái ở sâu bọ thường được điều hoà bởi hai loại hoocmôn là ecbixon và juvenin được tiết ra từ tuyến ngực. Tuỳ theo mức độ tác động khác nhau của hai loại hoocmôn này mà sâu bọ có kiểu biến thái hoàn toàn (bướm) hoặc kiểu biến thái không hoàn toàn (châu chấu). – Điều hoà sự tạo thành các tính trạng sinh dục thí sinh : Động vật cũng như con người, ở giai đoạn trưởng thành sinh dục, con đực và con cái khác nhau không chỉ về cơ quan sinh dục (con đực có tinh hoàn, con cái có buồng trứng) mà còn khác nhau về nhiều đặc điểm hình thái và sinh lí, được gọi là tính trạng sinh dục thứ sinh. Ví dụ : hươu đực có sừng, sư tử đực có bờm ; đàn ông có râu, giọng nói trầm, cơ phát triển… Các tính trạng sinh dục thứ sinh được điều hoà bởi hai loại hoocmôn sinh dục là ostrôgen (hoocmôn sinh dục cái do buồng trứng tiết ra có tác dụng điều hoà phát triển các tính trạng sinh dục cái) và testosteron (hoocmôn sinh dục đực do tinh hoàn tiết ra có tác dụng điều hoà phát triển các tính trạng sinh dục đực). – Điều hoà chu kì kinh nguyệt : Đối với động vật bậc cao và người đến tuổi trưởng thành sinh dục thì khả năng sinh sản thường được biểu hiện ở chu kì sinh sản (ở động vật được gọi là chu kì động dục, ở người được gọi là chu kì kinh nguyệt) là do có sự biến đổi trong cơ quan sinh dục xảy ra theo chu kì. Độ dài của chu kì thay đổi tuỳ loài động vật. Ví dụ : đối với chó một năm có hai chu kì, đối với con người chu kì diễn ra liên tục, kéo dài trung bình khoảng 28 ngày… + Tuổi dậy thì : Đối với con người, tuổi dậy thì là giai đoạn phát triển, trong đó trẻ em đã phát triển thành người lớn có khả năng sinh sản. Đối với nữ vào khoảng 13 -14 tuổi, đối với nam 14 – 15 tuổi.
Đến tuổi dậy thì dưới tác dụng của các hoocmôn sinh dục, cơ thể có nhiều biến đổi trong cơ quan sinh dục cũng như xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ sinh. + Chu kì kinh nguyệt và điều hoà chu kì kinh nguyệt LH FSH Nồng độ hoocmôn Ostrôgen Prôgesteron Các hiện tượng trong buồng trứng Pha nang trứng Rụng trứng Pha thể vàng Sự phát triển niêm mạc dạ con Các hiện tượng trong dạ con 14. 28 (ngày) Hình 38.2. Sơ đồ các hiện tượng trong chu kì kinh nguyệt Chu kì kinh nguyệt thường kéo dài trong khoảng 21 – 31 ngày, trung bình là 28 ngày và khi bắt đầu có kinh phải 3 năm sau mới ổn định. Thời kì có kinh (máu xuất từ thành dạ con) kéo dài khoảng 5 ngày. Thời gian có kinh và lượng máu xuất ra tuỳ thuộc vào từng cá nhân, nhưng thường gây ra các biến đổi về tâm sinh lí như rối loạn xúc cảm, mệt mỏi… Chế độ ăn uống, tình trạng sức khoẻ, lối sống… gây ảnh hưởng đến chu kì kinh nguyệt không đều hoặc tắt kinh, do đó có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và chức năng sinh sản. Nhiều loại hoocmôn gây tác động đến chu kì kinh nguyệt. Sơ đồ hình 38.2 cho thấy hoocmôn kích nang trứng (FSH) và hoocmôn tạo thể vàng (LH) do tuyến yên tiết ra phối hợp với hoocmôn astrogen có tác động kích thích phát triển nang trứng và gây rụng trứng xảy ra trong 14 ngày đầu của chu kì kinh nguyệt. Trứng được giải phóng khỏi nang trứng vào khoảng ngày thứ 14 và nang trứng biến thành thể vàng. Thể vàng tiết ra hoocmôn prôgesteron, prỘgesteron phối hợp với ostrgen có tác dụng ức chế sự tiết ra FSH và LH của tuyến yên. Nếu như trứng không được thụ tinh thì thể vàng teo đi trong vòng 10 ngày kể từ sau khi trứng rụng và chu kì kinh nguyệt lại được lặp lại. Đồng thời với sự biến đổi trong buồng trứng thì trong dạ con cũng diễn ra nhiều biến đổi. Dưới tác động của progesteron và ostrogen, niêm mạc dạ con dày, phồng lên, tích đầy máu trong mạch chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi trong dạ con. Trong trường hợp trứng không được thụ tinh sẽ không có phôi làm tổ thì niêm mạc dạ con bị bong đi và máu được bài xuất ra ngoài, gây nên hiện tượng hành kinh (xảy ra từ ngày thứ nhất đến ngày thứ năm kể từ đầu chu kì). Trường hợp có phôi làm tổ, nhau thai sẽ được hình thành và sẽ tiết ra hoocmôn kích dục nhau thai (HCG) có tác dụng tương tự LH duy trì thể vàng tiết ra progesteron, do đó, trong thời kì mang thai không có tráng chín và rụng trứng.